Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2008

Sơ lược một số phương pháp dạy học

I. Phương pháp truyền giảng:
Trong phương pháp này người dạy truyền sự hiểu biết của mình - chủ yếu thông qua lời nói - đến tất cả người học trong một lớp một cách đồng thời. Người học cố găng lắng nghe và ghi chép.
Như đã trình bày trong các chương trước, để áp dụng được quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm thì phương pháp dạy học được lựa chọn phải thích hợp trong một môi trường cụ thể với một đối tượng học sinh cụ thể. Chỉ có trong thời kì đầu của lịch sử dạy học khi người dạy chỉ phải làm việc với một người học thì điều đó đó mới khả thi một cách tự nhiên. Tình trạng lí tưởng đó tiếc thay lại không thể tái diễn ít ra là trong thời đại của chúng ta. Thừa kế cách tổ chức dạy học theo kiểu trường - lớp của lịch sử tổ chức dạy học, một thày dạy cho một lớp đông người học, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì thày giáo khó bề chăm lo cho từng học sinh được, khó bề hướng tới từng người học được! Một là: Hoặc hiện nay mỗi thày cô giáo phải quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là “truyền đạt cho hết” những nội dung qui định trong chương trình và sách giáo khoa - những nội dung qui định trong chương trình và sách giáo khoa này đã được ban hành từ trên xuống và hầu như về phía người dạy không được phép thay đổi – thì việc thày “thông báo kiến thức” đồng loạt cho học sinh là một lựa chọn “tự nhiên” nhất. Cách dạy như vậy đẻ ra cách học thụ động, thiên về thuộc lòng, ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ và phê phán. Xã hội phong kiến nông nghiệp và thời kì đầu xã hội tư bản công nghiệp cơ khí hóa mới có thể cần những con người như vậy. Hai là: Hoặc nền giáo dục vẫn phải chấp nhận cách tổ chức dạy học theo kiểu trường - lớp nhưng phải trang bị đầy đủ các phương tiện công nghệ dạy học hiện đại, mà chủ yếu là công nghệ thông tin để người dạy và người học vượt qua được mối quan hệ “một thày - nhiều trò” nhờ vào khả năng tương tác của hệ thống công nghệ đối với từng người học, giữa các người học, giữa thày giáo và từng người học.
Lựa chọn 1 là không thể chấp nhận được trong thế giới đang tiến lên xã hội tri thức như hiện nay nhưng do những yếu tố về tài chính, về tổ chức và về khả năng đào tạo các nhà giáo đủ năng lực, lựa chọn 2 không thể xảy ra trong thời gian ngắn trước mắt. Vậy trong thời gian trước mắt cách dạy truyền giảng sẽ vẫn còn được sử dụng với một vài thay đổi cho phù hợp với hướng “lấy người học làm trung tâm”. Một số trong các cải tiến đó, hướng tới sử dụng nhiều hơn các phương tiện trực quan, hướng tới vấn đáp giữa người dạy và người học, hướng tới giúp người học tăng cường sự tham gia vào quá trình phát triển của bài học. Các phương pháp dạy học đó được gọi dưới một tên chung là “phương pháp dạy học tích cực”. Có thể kể:
o Phương pháp trực quan, thực hành: Người dạy sử dụng các phương tiên trực quan như mô hình, mẫu vật, tranh vẽ,… Các người học, dưới sự hướng dẫn của người dạy (người dạy chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn sự tri giác của người học) trực tiếp thao tác và thí nghiệm trên đối tượng cần quan sát và tự lực tìm ra tri thức mới.
o Phương pháp phát vấn: Là phương pháp trong đó người dạy đặt ra những câu hỏi để người học suy nghĩ và trả lời. Các câu hỏi này thường được chuẩn bị và cân nhắc một cách kỹ lưỡng trong giáo án của người dạy. Căn cứ vào hoạt động nhận thức của người học có thể phân thành 3 phương pháp phát vấn:
* Vấn đáp tái hiện: Các câu hỏi chỉ yêu cầu người học nhớ lại kiến thức đã học, không cần suy luận. Kiểu vấn đáp này không có mấy giá trị sư phạm. Thường chỉ dùng khi cần tạo mối liên kết giữa kiến thức đã học và kiến thức sắp học (hoặc vừa được học).
* Vấn đáp giải thích – minh họa: Nhằm làm sáng tỏ một đề tài đang học nào đó. Người dạy lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn.
* Vấn đáp phát hiện (Heuristic): Người dạy dùng một hệ thống câu hỏi đã được sắp xếp hợp lí để giúp người học từng bước phát hiện ra bản chất của vấn đề hoặc tính qui luật của sự việc.
Phương pháp phát vấn sẽ đi gần với quan niệm dạy học lấy người học làm trung tâm nếu người dạy có thể tổ chức để người học đi dần từ chỗ “nghe - trả lời” tiến đến thảo luận (discussion), hoặc ở mức cao hơn nữa: “tranh luận” (với nhau hoặc với cả người dạy).
II. Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Trong một xã hội phát triển nhanh, cạnh tranh gay gắt, trong một xã hội chỉ dành chỗ tốt đẹp hơn cho những cá thể và tập thể có sự sáng tạo, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh trong thực tiển là một năng lực đảm bảo sự thành đạt của cá nhân (và do đó là của tập thể) trong cuộc sống, đặc biệt là trong kinh doanh. Vì vậy tập dượt và rèn luyện cho người học khả năng biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong cuộc sống là một mục tiêu giáo dục quan trọng.
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần của bài học) dạy theo phương pháp này như sau:
i) Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:
Đây là khâu quan trọng nhất. Nhìn ra được mình phải giải quyết vấn đề gì coi như như đã đi được nửa con đường. Thao tác của người dạy thường gồm các bước:
* Tạo ra tình huống có vấn đề.
* Nhận dạng ra vấn đề nảy sinh. Nhận dang ra những mâu thuẫn trong vấn đề nảy sinh.
* Phát biểu rõ ràng vấn đề cần phải giải quyết.
ii) Giải quyết vấn đề đặt ra:
* Đề xuất các phương án giải quyết. Lựa chọn phương án.
* Lập kế hoạch giải quyết.
* Thực hiện kế hoạch giải quyết.
iii) Kết luận về phương án giải quyết vấn đề:
* Thảo luận và đánh giá kết quả.
* Khẳng định hay bác bỏ cách giải quyết
* Phát biểu kết luận.
* Đề xuất vấn đề mới.

Về các mức độ của phương pháp dạy học này:
Mức 1: Người dạy đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Người học thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của người dạy. Người dạy đánh giá kết quả làm việc của học sinh.
Mức 2: Người dạy đặt vấn đề, gơi ý cho người học nêu cách giải quyết vấn đề. Người học thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của người dạy khi cần. Người dạy và người học cùng tham gia đánh giá.
Mức 3: Người dạy cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Người học phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các cách giải quyết vấn đề. Người học tự thực hiện cách giải quyết vấn đề. Người dạy đánh giá kết quả làm việc của học sinh.
Mức 4: Người học tự phát hiện tình huống có vấn đề, tự phát biểu được bài toán cần giải quyết, tự tìm ra cách giải quyết vấn đề, tự thực hiện việc giải quyết vấn đề, tự đánh giá việc giải quyết vấn đề. Người dạy chỉ có ý kiến bổ sung.
III. Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ:
Lớp học được chia thành từng nhóm từ 4 đén 6 người. Yêu cầu học tập được phân cho mỗi nhóm thực hiện. Việc chia nhóm như vậy có thể thực hiện trong một tiết học hoặc kéo dài trong một thời gian của một học phần. Trong mỗi nhóm các thành viên đều phải làm việc, không được ỷ lại vào một vài cá nhân năng động hơn hoặc giỏi hơn. Kết quả của từng cá nhân hoặc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả chung của cả tập thể. Mỗi cá nhân phải ý thức ràng buộc sức mạnh của tập thể.
Cấu trúc của một phiên làm việc theo nhóm như sau:
Làm việc chung cả lớp:
* Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.
* Tổ chức nhóm, giao nhiệm vụ.
* Hướng dẫn cách làm việc.
Làm việc theo nhóm:
* Phân công trong nhóm.
* Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi và trao đổi.
* Tổng hợp kết quả đạt được của nhóm.
Tổng kết công việc của mỗi nhóm trước lớp:
* Mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả đạt được của nhóm.
* Thảo luận chung.
* Người dạy tổng kết. Đặt vấn đề cho bài tiếp theo.

Để thực hiện được phương pháp dạy học nêu vấn đề và phương pháp nhóm nhỏ cần một vài kỹ thuật dạy học:
Kỹ thuật công não (brain storming): Kích thích người học, nhóm làm việc đưa ra cành nhiều ý tưởng, càng nhiều giải pháp càng tốt. Đầu tiên là ghi nhận các ý tưởng, các giải pháp. Không vội đánh giá các ý tưởng, các giải pháp. Thảo luận và tranh luận bảo vệ các ý tưởng, giải pháp đã đề xuất.
Nhóm rì rầm (buzz groups): Học sinh trao đổi nhỏ (!) với nhau về một vấn đề. Có thể là hai học sinh ngồi gần nhau hoặc tổ chức thành nhóm trao đổi với nhau về một vấn đề. Sau đó yêu cầu học sinh nêu ra, chia sẻ ý kiến với cả lớp.
Bể cá (Fish bowl): Một nhóm im lặng lắng nghe nhóm còn lại trao đổi với nhau để tìm hiểu cách mà nhóm này lập luận, giả quyết vấn đề. Sau đó đổi vai giữa hai nhóm.
Kim tự tháp (Pyramid): Chia ra thành các nhóm nhỏ để thảo luận, nghiên cứu về một vấn đề. Tổng kết ý kiển trong nhóm. Sau đó vấn đề được thảo luận sâu hơn bằng cách gộp hai nhóm nhỏ thành một nhóm lớn hơn. Rồi lại gom 2 nhóm thành một nhóm lớn hơn nữa cho đến khi còn một nhóm là cả lớp. Càng về sau ý kiến càng chắt lọc, sâu sắc hơn, chính xác hơn.

Trong hai phương pháp dạy học sau đòi hỏi giáo viên phải có trình độ tốt cả về kiến thức lẫn năng lực giải quyết các tình huống sư phạm. Giáo viên phải nghiên cứu rất kỹ vấn đề đang dạy. Càng tiếp cận sâu hơn phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm thì công việc tại lớp của giáo viên càng ít đi còn công việc (của giáo viên và học sinh) trước và sau giờ dạy càng lớn lên rất nhanh. Mục tiêu của các phương pháp đó là nhằm giúp học sinh được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2008

DẠY HỌC LÀ GÌ ?!


Để trả lời các câu hỏi về phương pháp giảng dạy có lẽ trước hết cần truy nguyên tới một câu hỏi quan trọng của mọi thày/cô giáo khi suy ngẫm về nghề nghiệp của mình:


Dạy học là gì?
Nhiều tác giả cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”. Quan niệm này lí giải đầy đủ cách mà nền giáo dục đang cố gắng đào tạo những con người thích ứng với những nhu cầu hiện tại của xã hội. Tuy nhiên quan niệm này làm cho nền giáo dục luôn đi sau sự phát triển của xã hội. Bởi vì nó chỉ có nhiệm vụ tái hiện lại các giá trị tinh thần xã hội đã được vật chất hóa bằng cách nào đó để trở lại thành giá trị tinh thần bên trong người học. Quan niệm đó đi ngược lại quan niệm của Socrate về giáo dục trong đó giáo dục có nhiệm vụ “đở đẻ” các ý niệm vốn có trong mỗi con người, để cho ý niệm đó được khai sinh và trở thành giá trị tinh thần chung của nhân loại. Quan niệm đó cũng hạn chế nền giáo dục hướng đến một phương pháp giáo dục giúp cho người học trở thành những con người sáng tạo, vượt qua được những giá trị tinh thần hiện có của xã hội. Thời đại của chúng ta, và hơn nữa xã hội chúng ta đang hướng đến một xã hội tri thức. Một xã hội mà tri thức của con người đang được số hóa với một tốc độ cực lớn, làm cho tri thức dễ dàng và nhanh chóng trở thành tài sản chung. Tuy nhiên xã hội tri thức không chỉ có nhiệm vụ tích hợp các kiến thức của con người đã đạt được trong những phương tiện lưu trữ dung lượng cực lớn, trong các cơ sở dữ liệu khổng lồ mà còn có nhiệm vụ từ đó nhân lên khối lượng kiến thức này thành các kiến thức mới có chất lượng cao hơn nữa.
Triết học Mác nói rằng “Lượng đổi thì chất đổi. Lượng thay đổi một cách tiệm tiến còn chất thì thay đổi một cách nhảy vọt”. Phạm trù về mối tương quan giữa lượng và chất này hoàn toàn đúng trong các hoạt động giáo dục. Người ta đã tính ra rằng khối lượng kiến thức hiện nay của nhân loại trong vòng 20 năm trở lại đây đã tăng bằng tổng khối lượng kiến thức mà nhân loại đạt được trong toàn bộ lịch sử trước đó của nó. Sự tăng về khối lượng kiến thức đó nhất thiết phải kéo theo sự thay đổi về chất tri thức của con người. Sự thay đổi về chất đó là gì? Con người của thời đại hiện tại không chỉ có nhiệm vụ học tập và nhớ các kiến thức sẳn có mà còn đòi hỏi con người phải có khả năng từ khối lượng tri thức đó sản sinh ra các giá trị vật chất và tinh thần mới ...và nắm bắt tri thức mới. Thời đại của máy tính và mạng Internet đã làm cho mọi biên giới văn hóa, kinh tế dần bị xóa nhòa. Nếu trước đây việc tìm kiếm sở hữu tri thức là quan trọng hàng đầu trong cuộc đấu tranh sinh tồn, việc tích lũy kiến thức (nhớ) là ưu tiên 1 thì giờ đây khi mà các phương tiện lưu trữ đã quá đầy đủ, quá sẳn sàng cho việc truy cập và xử lí thì ưu tiên 1 lại là khả năng nhanh chóng tiếp cận tri thức mới, khả năng vận dụng tri thức mới và khả năng ... "đẻ" ra tri thức mới. Một ví dụ rất rõ ràng là trong vòng vài tháng thì công nghệ phần cứng của máy tính lại có một công nghệ mới, trong vòng vài năm thì Microsoft (chưa kể đến các hảng phần mềm khác!)lại xuất ra một phiên bản OS mới với nhiều tính năng mới, .v.v. con người phải có khả năng thích ứng liên tục và nhanh chóng - chẳng những về tri thức mà còn về kỹ năng - với một tốc độ cực cao. Nếu cuộc cách mạng kỹ thuật của thế kỹ trước đã nối dài cách tay con người thì nay cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã bố trí thêm cho mỗi con người vô số bộ óc bên ngoài cơ thể. Cách tay của con người trong thế kỹ trước cần được đào tạo để chế tạo và điều khiển những cách tay máy thì trong thời đại hôm nay bộ óc con người cần được đào tạo để chế tạo và điều khiển những bộ óc máy. Nhưng con người là con người! Những kiểu tâm trạng và kiểu cảm xúc của nó nói chung là bất biến đối với thay đổi kỹ thuật. Những vấn đề cốt lõi của con người về hạnh phúc, về sự sống, về cái chết, về chiến tranh và hòa bình, về khả năng sống hòa hợp trong không gian các giá trị văn hóa của cộng đồng .v.v. hầu như không hề tay đổi! Và nó cũng phải được đào tạo để thích ứng với điều đó!
Vậy có lẻ hợp lí hơn nếu cho rằng:
“Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”

Khi đó chúng ta sẽ nói tới phương pháp dạy và học trong ngày hôm nay:


Phương pháp giảng dạy:
Không có “phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm”. Đó không phải là một phương pháp. Đó chỉ là một quan niệm về việc dạy học. Phương pháp dạy học là cách thức mà người dạy tuân thủ suốt trong quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc dạy nhằm làm cho việc dạy đạt được mục đích yêu cầu học của người học.
Nói tới phương pháp dạy học là nói tới công nghệ dạy học, bao gồm các thao tác tổ chức môi trường dạy và học, tổ chức chương trình học, tổ chức thời gian học, tổ chức việc dạy, tổ chức việc học, tổ chức đánh giá kết quả học.
Mặc dù vậy, đánh giá kết quả của việc dạy lại là thẩm quyền của xã hội! Các trình độ xã hội khác nhau và mục tiêu mà xã hội đó muốn đạt tới đặt ra các mục tiêu giáo dục khác nhau. Các mục tiêu giáo dục khác nhau dẫn đến các quan niệm về giáo dục khác nhau. Đến phiên các quan niệm về giáo dục khác nhau trong mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn phương pháp dạy học.
Việc lựa chọn một phương pháp dạy học cụ thể, trong một hoàn cảnh dạy học cụ thể, là công việc của người dạy và chỉ do người dạy quyết định. (Tuy nhiên việc đánh giá kết quả công việc dạy học của người dạy lại là quyền của xã hội!)

I. Quan niệm dạy học lấy người học làm trung tâm.
Để xem xét vấn đề này trước hết chúng ta cần xem xét một số vấn đề và một số khái niệm có liên quan:
· Công nghệ dạy học:
Công nghệ dạy học hiểu theo nghĩa rộng nhất là việc tổ chức các quá trình của hoạt động dạy, hoạt động học đồng thời với việc tổ chức các thành tố khác có tham gia vào hai hoạt động đó. Nói dạy học theo một công nghệ dạy học là nói đến quá trình tổ chức dạy học được thiết kế tỉ mỉ, được chia thành các nguyên công và các qui tắc tiến hành công việc dạy học một cách chặt chẽ. Các nguyên công này bao gồm: Tổ chức môi trường dạy/ học; Phương pháp dạy; Phương pháp học; Phương tiện dạy học.
* Lịch sử công nghệ dạy học:
Nhìn lại lịch sử giáo dục, nhìn lại mối tương quan giữa người dạy và người học, lịch sử công nghệ dạy học đã đi một vòng phát triển xoáy trôn ốc:
Thời sơ khai: Trong lịch sử phát triển của loài người có lẽ hoạt động giảng dạy xuất hiện lần đầu tiên khi người cha dẫn người con đi săn bắn-hái lượm. Trong hoạt động đó người cha truyền đạt cho người con những hiểu biết và kỹ năng cần thiết để tồn tại, đồng thời cũng truyền cho con những qui tắc ứng xử giữa con người và thiên nhiên, qui ước ứng xử giữa các con người trong bộ tộc (cũng tức là những yếu tố văn hóa nguyên khai nhất nhằm giải thích ý nghĩa xã hội của cuộc sống). Hoạt động này diễn ra bằng mối giao tiếp toàn vẹn giữa Một Người – Một Người. Người Cha hiểu biết cặn kẻ về trạng thái hiểu biết và kỹ năng của con và có thể đáp ứng tức thời và trực tiếp nhu cầu học tập của con. Hoạt động dạy và học này có thể xem là hoạt động dạy học không chính qui (informal education) vì nó diễn ra tự phát. Tuy nhiên hoạt động đó có những ưu điểm mà các hình thức dạy học về sau khó lòng đạt được là:
o Tương tác trực tiếp, tức thời giữa người dạy và người học.
o Người học được đặt trong môi trường học tập một cách đầy đủ (ở đây là thiên nhiên trong bối cảnh tự nhiên của nó).
o Người học được phát triển một cách toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần theo như nhu cầu về cuộc sống của nó.
Nhưng điều đó không thể kéo dài trong lịch sử nhân loại. Sẽ có sự phân công trong bộ lạc để dần tiến lên một kiểu xã hội tiến bộ hơn. Người cha sẽ không thể có đủ hiểu biết và các kỹ năng cần thiết để dạy cho người con nữa. Cần thiết có sự xuất hiện những người chuyên trách nhiệm vụ đặc biệt này: Ông Thầy. Đây là người sẽ đảm nhận trọng trách dạy cho người khác hoặc là cách sống giữa xã hội (sống có văn hóa) hoặc là cách kiếm sống bằng một kỹ năng nhất định nào đó (nghề nghiệp) hoặc là cả hai điều đó. Điều này còn để lại dấu ấn trong ngôn ngữ của chúng ta. Dân gian vẫn dùng từ “Thày” để chỉ tất cả những ai dạy cho mình ít ra một hai điều đó: Thày chùa, Thày nghề, Thày lang .v.v.. Trong đó dành riêng một từ “Thày giáo” để chỉ những ai “chuyên trách” (formal education) công việc dạy.
Tới giai đoạn này thì Một Ông Thày không còn dạy cho Một Người Học nữa. Điều đó rõ ràng là kém hiệu quả. Ông thày bắt đầu có nhiều môn sinh – Mặc dù tại mỗi thời điểm ông thày có thể chỉ dạy một người học – và bắt đầu xuất hiện khái niệm trường học
Thời kì phong kiến nông nghiệp: “Ông thầy/ ông đồ” có mối liên hệ cá nhân với mỗi một người học. Tại mỗi thời điểm ông thầy dạy theo đúng với trạng thái trí tuệ của “cá nhân” người học và không bị ràng buộc bởi bất kì một chương trình, một phân bố thời lượng nào cho môn học. “Ông thầy” giảng bài cho “cá nhân” người học. Lời nói, đối thoại giữa thầy và trò là công cụ dạy và cũng là công cụ học tập chủ yếu.
Thời kì công nghiệp hoá, cơ khí hóa: Do nhu cầu đào tạo nhanh một số lượng đông, đồng nhất về trình độ để phục vụ cho xã hội công nghiệp hoá, và tăng hiệu quả việc tổ chức dạy học, người học được tập trung lại theo từng lớp học. “Ông thầy” giảng bài cho “tập thể” lớp học. Trong quá trình giảng bài, ông thầy phải giả định “một học sinh ảo trung bình” làm đơn vị thước đo trung bình cho kiến thức cần truyền đạt, đánh giá người học qua năng lực cần đạt được của “học sinh ảo trung bình” này và buộc phải tuân thủ chặt chẻ chương trình qui định và thời lượng qui định. Ở mọi thời điểm, mỗi người học dù ở mức năng lực nào, trạng thái trí tuệ và tâm lí nào cũng phải lấy “học sinh ảo trung bình” này làm tiêu chuẩn đối chứng. Việc dạy học “đảm bảo thích hợp cho 4 đối tượng: Giỏi / Khá / Trung bình / Yếu” là một cố gắng tuyệt vọng hướng tới đảm bảo chỉ số đánh giá trung bình, vì làm sao một lớp học với 30 học sinh mà chỉ có 4 đối tượng được[1] ! Lời nói trở thành công cụ dạy chủ yếu. Đối thoại giữa thầy và trò bị giảm thiểu – thậm chí bị triệt tiêu. Ngưòi học chủ yếu là nghe để học. Đồng thời với sự phát triển công nghệ, việc dạy học đòi hỏi thêm nhiều phương tiện dạy học dạy học hơn: Bảng, phấn, sách vở, phương tiện trực quan, phương tiện thí nghiệm. Tuy nhiên, dù có sự giúp sức của các phương tiện dạy học, sự truyền thông hướng từ thầy tới trò vẫn là con đường truyền thông chủ yếu cho phần lớn kiến thức, kỹ năng, các giá trị đạo đức mà xã hội muốn truyền đạt cho thế hệ trẻ.
Dự kiến cho thời kì xã hội thông tin: Mở ra khả năng người học, nhờ vào công cụ học tập là máy tính, và các phương tiện truyền thông đa phương tiện nói chung - có thể học tập theo trạng thái tức thời của mình đồng thời cũng không vượt xa khỏi định hướng chung của môn học. Quan sát bất kì giờ học nào trên máy tính cũng thấy rất nhiều học viên đang trong nhiều trạng thái chương trình, rẻ nhánh chương trình khác nhau – đang tập trung giải quyết các khối lượng thông tin khác nhau, các hướng đi khác nhau để đến cùng một mục đích do định hướng chung của môn học qui định. Không thể nào bắt buộc mọi học viên đều cùng có bước phát triển chương trình như nhau. Mặt khác, giao tiếp người – máy thông qua các giao diện thích hợp mở ra khả năng giảm thiểu việc dùng lời-giảng-cho-cả-lớp. Giao tiếp “người - máy tính” cũng mở lại khả năng giao tiếp: “Ông thầy – máy tính” làm việc với “cá nhân” người học. Mở lại khả năng dạy theo đúng với trạng thái trí tuệ của “cá nhân” người học và không bị ràng buộc cứng ngắc bởi bất kì một chương trình, một phân bố thời lượng nào cho môn học như đã từng có trong lịch sử dạy học trước đó, nhưng với một chất lượng dạy/học cao hơn nhiều. Người dạy bây giờ tập trung nhiều hơn, và có nhiều khả năng hơn vào việc điều khiển học tập của từng người học. Công nghệ thông tin hiện đại đã trở thành công cụ dạy và cũng là công cụ học.
Một đặc điểm hết sức quan trọng hiện nay của việc thủ đắc kiến thức là con người có thể thủ đắc gần như đầy đủ các kiến thức thông qua hệ thống máy tính và các phần mềm giáo dục mà không nhất thiết phải có sự hiện diện của “ông thầy bằng xương bằng thịt”. Nói cách khác sự hiện diện của ông thầy có vẻ như trong chừng mức nào đó “làm cho triệt tiêu” được! Vậy thì vai trò của “ông thầy bằng xương bằng thịt” là chổ nào trong toàn bộ quá trình dạy và học? Vấn đề là người học, đặc biệt là trẻ em, vẫn rất cần phải có người điều chỉnh hoạt động học. Các quá trình tâm sinh lí và trạng thái ý thức của người học trong quá trình học vẫn chưa và có lẽ sẽ không thể nào điều khiển bằng một chương trình tự động hóa được. Việc đánh giá trạng thái tâm lí, yếu tố có tác động to lớn đối với hoạt động trí tuệ và hành vi của người học chỉ có thể được thực hiện bởi những kinh nghiệm dạy của “ông thầy” để đưa ra các tác động điều khiển học tập cần thiết và thích hợp cho mỗi cá nhân học viên.
Mỗi xã hội và nền tảng kinh tế của nó hình thành nên một công nghệ dạy học thích ứng với nhu cầu của nó. Nhưng một xã hội cũng không cần phải kinh qua mọi hình thái tổ chức dạy học như các hình thái mà lịch sử tổ chức xã hội đã kinh qua:
“Giáo dục có sức mạnh hơn quá trình hiện thực ở chỗ, vì đi sau, nó không nhất thiết phải đi vòng vèo, rơi vào những chỗ xoáy ngược trở lại của dòng lịch sử và nói chung không cần phải tự mình thí nghiệm những nỗi dằn vặt trong những lúc tròng trành của con thuyền sự vật ở trong dòng lịch sử ấy”. Nếu khôn ngoan, nó sẽ biết làm theo con đường lich sử đã “rút gọn”.[2]
Tuy nhiên, công nghệ thông tin không làm cho công việc người dạy trở nên nhẹ nhàng hơn, cũng không làm cho việc nắm bắt kiến thức của nhân loại dễ dàng hơn như nhiều người vẫn tưởng – thậm chí người dạy và người học còn phải vật lộn nhiều hơn với sự bùng nổ hoặc quá tải thông tin. Công nghệ thông tin chỉ đem lại cho người dạy, người học các khả năng to lớn hơn, hiệu quả hơn trong dạy và học mà thôi! Do đó “Dù khó khăn gian khổ đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt” mãi vẫn còn là điều mà người làm công tác giáo dục phải kiên trì phấn đấu.
II. Phương pháp giảng dạy tin học.
Nếu các nội dung liên quan đến công nghệ thông tin có thể và cần được giảng dạy trong nhà trường với tính cách là một bộ môn riêng lẻ, và nếu bộ môn ấy có những đặc thù về tổ chức môi trường dạy và học cũng như có nét tư duy bộ môn khác biệt so với mọi môn học khác trong nhà trường thì chắc chắn phải có một phương pháp dạy học dành riêng cho nó. Phương pháp dạy học đó phải kế thừa các phương pháp dạy học đã biết đồng thời phải có những nét khác biệt do nó sử dụng các thành tựu công nghệ thông tin ở trình độ cao.
Quá trình dạy / học có thể hiểu như một quá trình truyền thông mà nhân vật trung tâm, mục tiêu của quá trình truyền thông này là người học. Mọi tác nhân có liên quan đến quá trình dạy/học đều hướng tới sự hoàn thiện cá nhân người học thông qua sự thụ đắc kiến thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành nhân cách của người học.
Trong hình trên chúng ta có thể thấy người học ở trung tâm của mọi con đường kiến thức: Người học có thể tìm kiếm sự hoàn thiện đó qua thầy cô giáo, máy tính và mạng máy tính, sách vở, hoạt động nghệ thuật, môi trường tự nhiên, xã hội, gia đình, các phương tiện nghe nhìn, ... trong đó người dạy giữ vai trò quan trọng nhất vì khi đó hoạt động dạy/học là hoạt động có mục tiêu và có định hướng rõ ràng nhất. Điều đó cho ta thấy chính người học là trung tâm của hoạt động dạy/học chứ không phải thày cô giáo. Hoạt động dạy của thày cô giáo chỉ là một phần của môi trường học tập đó mà thôi! Và điều đó ngày càng trở nên rõ ràng, cấp thiết hơn trong xã hội bùng phát thông tin hôm nay. Sự hoàn thiện đó đòi hỏi nhiều phương tiện truyền thông khác nhau (truyền thông đa phương tiện – multimedia communication). Và vì vậy hiện nay "dạy"đồng nghĩa với “dạy cách học” chứ không phải “dạy kiến thức”. Kiến thức sẽ đến với người học từ nhiều nguồn khác nhau – không nhất thiết kiến thức, kỹ năng luôn luôn đến với người học là từ người dạy!

Cũng như mọi quá trình truyền thông tổng quát, luôn luôn xuất hiện một chiều thông tin tới người học và một chiều thông tin phản hồi từ phía người học đến các tác nhân dạy. Sự truyền thông đó luôn luôn có những tác nhân gây nhiễu. Nhiễu trong quá trình truyền thông này trong thực tế không thể loại bỏ hoàn toàn được mà chỉ có thể làm giảm đi càng nhiều càng tốt. Như vậy lượng thông tin nhận được khi nào cũng bị suy giảm so với lượng thông tin được phát đi. Độ lớn của sự suy giảm này phụ thuộc vào:
- Kỹ thuật mã hoá thông tin.
- Kỹ thuật giải mã thông tin.
- Cường độ của nhiễu.
- Kỹ thuật của đường truyền (vật mang thông tin).
Như vậy để giảm thiểu thông tin bị thất thoát cần nâng cao chất lượng mã hoá, giải mã, hạn chế các nguồn gây ra nhiễu và kỹ thuật truyền tin. Có một kỹ thuật chống nhiễu: đó là kỹ thuật dùng mã thừa sửa sai (CRC - cyclic redundancy check). Kỹ thuật này dùng cách truyền thêm một lượng thông tin dư thừa so với lượng cần truyền đi. Ở nơi nhận, lượng thông tin dư thừa này sẽ được dùng để phối kiểm liệu thông tin nhận được có chính xác hay không. Nếu thông tin nhận được là không chính xác thì có thể dùng ngay mã thừa sửa sai này để điều chỉnh ngay hoặc, trong tình huống xấu nhất, yêu cầu thông tin phải được nơi phát truyền lại lần nữa!
Đối với quá trình dạy/học nơi nhận tin là con người do đó sự thất thoát thông tin này còn do một yếu tố nữa hoàn toàn có tính chất tâm lí học: đó là yếu tố tâm lí – sinh học đối với kỹ thuật truyền tin. Các thống kê sau đây cho thấy với các vật mang tin khác nhau ảnh hưởng đến khả năng nhận tin của “người” nhận tin như thế nào:

Lượng thông tin phát ......... Vật mang tin ......... Lượng thông tin nhận
.......(100 %) ................................Lời nói ...........................5% - 10 %
........(100%)................................Hình ảnh ..............................20 %
........(100%)...........................Lời nói + Hình ảnh......................25 %
........(100%).......................... Thao tác thí nghiệm ..................75 %

Điều này có nghĩa là nếu giáo viên chỉ dùng lời giảng và phương pháp đọc ghi thì có khả năng 90% kiến thức truyền giảng bị rơi mất khỏi tâm trí học sinh!
Khi đặt người học ở trung tâm ảnh hưởng của các tác nhân dạy tức là đã dùng kỹ thuật truyền tin đa phương tiện và kỹ thuật mã thừa sửa sai để nâng lượng thông tin thu nhận được lên đến mức tối đa có thể được.

Cước chú:


[1] Nhiều nhà giáo dục còn đi xa, cực đoan hơn trong việc đánh giá việc dạy học theo từng “lớp học”. Ý kiến sau đây là của Tiến sĩ Seymour Paper – thuộc Phòng thí nghiệm Media của Học viện Công nghệ Massachusetts, dự án “Nhà trường của tương lai”: “Không thể dự báo được trường học trong tương lai sẽ như thế nào. Lịch sử thường thông minh hơn nhiều so với những nhà tương lai học. Nhưng rất dễ dàng dự báo trường học sẽ không còn như thế nào. Tôi tin chắc rằng việc phân chia trẻ em theo tuổi trong các “lớp học” sẽ được xem như là một phương pháp lỗi thời và vô nhân đạo của kỷ nguyên “sản xuất dây chuyền”. Tôi nghĩ rằng nội dung của những gì chúng ta học sẽ rất ít giống với chương trình hiện nay” . Trích tài liệu tham khảo về CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC – Gs. Lâm Quang Thiệp dịch – Tài liệu Đổi mới phương pháp dạy học trong các trường đại học, cao đẳng đào tạo giáo viên trung học cơ sở – Bộ giáo dục và đào tạo - Dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở – Hà Nội tháng 9/2003. Trang 110.


[2] BÀI HỌC LÀ GÌ? – Hồ Ngọc Đại (Chương VII – Tiến trình phát triển của bài học). Trang 239. Nxb Giáo Dục 1985.

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2008

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

I. Triết lí giáo dục của thế kỷ XXI
Học suốt đời:
Các phương tiện giao thông, các phương tiện truyền thông làm cho thế giới ngày càng trở nên gần nhau hơn. Tương tác giữa các cộng đồng dân cư và sự di chuyển của một bộ phận lớn cư dân ngày càng mạnh mẻ hơn. Công nghệ thay đổi rất nhanh làm cho nhiều ngành nghề mới phát sinh và nhiều ngành nghề có thể bị đào thải nhanh chóng. Người lao động có thể bị mất việc làm và buộc phải tìm việc làm trong một ngành nghề mới. Điều đó buộc con người phải luôn luôn học tập để thích ứng với xã hội mà sự thay đổi diễn ra từng ngày.
Mục đích của việc học của mỗi cá nhân:
- Học để biết và học để hiểu.
- Học để làm, để ứng dụng
- Học để cùng sống với nhau.
- Học để làm người.
Xây dựng một xã hội học tập:
- Giáo dục trong nhà trường (Formal education) cần phải tiến hành song song và/hoặc được tiếp nối bởi giáo dục ngoài nhà trường (informal education) sao cho mọi cá nhân trong xã hội đều có cơ hội tiếp cận mọi nguồn kiến thức bất cứ khi nào cần đến. Việc học tập phải trở thành một nhu cầu thường xuyên của mọi cá nhân và có thể được đáp ứng một cách thường xuyên. Điều này là rất cần thiết và cấp bách trong thời đại xã hội thông tin. Vì lẽ trong xã hội hiện nay khối lượng kiến thức của con người không ngừng tăng lên như vũ bão, các lĩnh vực hoạt động của con người theo đó cũng thay đổi không ngừng với tốc độ rất cao. Con người cần phải có khả năng thích ứng với tốc độ thay đổi đó.
II. Xu thế phát triển phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học có khuynh hướng tăng cường dần vai trò chủ động của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống của mỗi cá nhân.
Jean Vial (1982) chia các phương pháp dạy học thành 4 “đời” đi dần từ trọng tâm là người dạy sang trọng tâm là người học


Đời 1. Giáo điều (thầy quyền uy; trò mờ nhạt)
Đời 2. Cổ truyền (thầy gợi mở; trò được định hướng)
Đời 3. Tích cực (thầy hướng dẫn, trọng tài, trò chủ động chiếm lĩnh tri thức)
Đời 4. Không chỉ đạo (thày mờ nhạt; trò tự giải phóng, tự giáo dục)


Theo đó tỉ lệ tương quan giữa người dạy và người học diễn ra như sau:
(Đời I: Dạy học là giải thích, minh họa)
(Đời II: Dạy học là lập lại, tái tạo theo mẫu)
(Đời III: Dạy học là cùng tìm tòi, giải quyết)
(Đời IV: Dạy học là tích cực chiếm lĩnh, nghiên cứu)

Với những định hướng về dạy học khác nhau đó – và trong những điều kiện khác nhau của lịch sử – chúng ta có thể có 3 mô hình giáo dục được UNESCO (1998) phân loại như sau:

Mô hình ................Trung tâm ......Vai trò người học .......Công nghệ dạy học
1. Truyền thống ....Người đạy .......Thụ động .....................Bảng phấn/TV/Radio
2. Thông tin .........Người học .......Chủ động .....................Máy tính PC
3. Tri thức ............Nhóm .............Thích nghi ...................Máy tính PC+Mạng

Như vậy quan niệm về dạy học phát triển dần từ chỗ “lấy người dạy” làm trung tâm của các hoạt động dạy và học sang “lấy người học làm trung tâm”. Trong ý nghĩa mới nhất của quan niệm dạy học đó thì:

“Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người mình bằng cách thu nhận và xử lí thông tin lấy từ môi trường sống chung quanh mình”
và dạy chính là:
“Dạy cách học”.

Thay đổi quan niệm về việc dạy làm cho quan hệ dạy – học có thể được nhìn nhận trong hai mô hình đối lập nhau:

Mô hình dạy học truyền thụ một chiều:

DẠY – GHI NHỚ. Trong mô hình này thày truyền đạt kiến thức - trò thụ động tiếp thu. Thầy độc thoại hay phát vấn, giảng giải - Trò ghi chép (nhớ), học thuộc lòng. Thày độc quyền đánh giá. Thày là thày dạy: dạy chữ, dạy nghề, dạy người.


Mô hình dạy học hợp tác hai chiều:

DẠY – TỰ HỌC.
Trò tự mình tìm ra kiến thức dưới sự hướng dẫn của thày. Có các đối thoại: trò-trò; thày-trò; có sự hợp tác với bạn và với thày; do thày tổ chức. Học cách học, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách sống. Trò có thể tự đánh giá, tự điều chỉnh; cung cấp liên hệ ngược cho thày đánh giá. Khuyến khích sự tự học.
Thày là thày học: chuyên gia về việc học, chuyên gia về dạy cách học cho trò tự học chữ, học nghề, học làm người.

Quá trình phát triển đó kéo theo những thay đổi sâu sắc về quan hệ giữa người học và người dạy, về cách thức đánh giá tính hiệu quả của quá trình giáo dục và hiệu quả của quá trình học tập. Quá trình đó cũng làm thay đổi một cách bắt buộc cách thức tổ chức và quản lí việc dạy học. Rõ ràng là không thể có một phương pháp dạy học mới – trong một mô hình dạy học mới hiệu quả - chừng nào chưa trang bị được cho nền giáo dục các công nghệ dạy học thích ứng để biến mô hình đó thành khả thi.
III. Vấn đề của chúng ta:
Chúng ta đang đứng trước các thách thức rất lớn và cấp bách:
Tốc độ hội nhập kinh tế của đất nước với thế giới đang diễn ra mạnh mẻ, đòi hỏi có sự thay đổi nhanh chóng nhiều mặt của xã hội để thích ứng với quá trình đó. Một trong những đòi hỏi đó là đào tạo những con người có đủ năng lực tham gia vào việc giải quyết những vấn đề do nền kinh tế và những vấn đề liên quan đặt ra. Nhiều vấn đề mà những người thuộc thế hệ trẻ sẽ phải giải quyết chẳng những có tính đặc thù của dân tộc mà còn có tính toàn cầu như những vấn đề về môi trường, vấn đề y tế – dịch bệnh, vấn đề truyền thông, vấn đề cạnh tranh về công nghệ và thương mại, .v.v.
Tốc độ đổi mới công nghệ của thế giới nhanh hơn, lớn hơn nhiều khả năng đổi mới công nghệ của chúng ta. Khó khăn này bao gồm khó khăn về tài chính để đảm bảo cho đổi mới công nghệ và khó khăn về con người. Khó khăn thứ hai thuộc về lĩnh vực giáo dục. Chúng ta không thể kịp đổi mới công nghệ dạy học theo yêu cầu. Kể từ những năm 90 của thế kỷ trước chúng ta đã có nhiều cố gắng để đưa những áp dụng của công nghệ thông tin vào nhà trường. Thậm chí đã có nghị quyết đặt ra chỉ tiêu cho đến hết năm 2005 tất cả các thường học phải có kết nối Internet. Nhưng trong thực tế chúng ta không thể trang bị đầy đủ máy tính cho các trường học. Kinh phí trang bị và bảo trì hệ máy tính quá lớn so với tổng thu ngân sách. Số ít ỏi các máy tính trong phần lớn trường học chỉ có tính trình diễn hơn là đem lại một hiệu quả giáo dục cụ thể. Mặt khác số kinh phí dành cho công nghệ thông tin đó trong nhà trường bị dàn trãi manh mún đến nỗi chúng ta cũng không có đủ con người để quản lí, sử dụng các máy tính đó trong dạy học một cách hiệu quả. Phần lớn số máy tính ở các nhà trường phổ thông cơ sở chỉ dừng lại ở mức sử dụng với tính cách máy tính đơn để xử lí văn bản hành chính mà thôi. Nói cách khác hiệu quả sử dụng công nghệ thông tin phục vụ dạy và học ở phổ thông hiện nay là quá khiêm tốn nếu không muốn nói là gần bằng 0.
Mặc dù vậy chúng ta không có lựa chọn nào khác. Tạo ra môi trường dạy học trong đó áp dụng những thành tựu công nghệ thông tin vào việc dạy học là lựa chọn có tính cách khẩn thiết và bắt buộc.
Môn học “tin học” trong nhà trường là môn về công nghệ, phần rèn luyện kỹ năng sử dụng máy tính là một mục tiêu quan trọng xác nhận sự tồn tại của môn này trong nhà trường. Không có công nghệ hỗ trợ dạy học thích hợp thì việc giảng dạy bộ môn đó là duy ý chí và hầu như không đem lại hiệu quả nào!
Vì những lí do đó, và tin rằng chúng ta trong thời gian ngắn có thể nâng được mức áp dụng công nghệ thông tin trong nhà trường lên được ngưỡng cần thiết để cho việc dạy học công nghệ thông tin trong nhà trường có một ý nghĩa thực sự, tài liệu này sẽ giả định là giáo viên có các phương tiện công nghệ cần thiết trong dạy học. Sự giả định đó hiện nay (năm 2006) có vẻ như chưa thực tế nhưng là sự bắt buộc phải có trong vòng môt thập niên nữa.
IV. Dạy cách học ở trường trung học cơ sở:
Trong trình bày nói trên việc dạy học đã được qui về dạy cách học. Như vậy việc đầu tiên mà người thày cần làm là tạo ra một môi trường thuận tiện cho người học, bao gồm:
o Chuẩn bị môi trường lớp học, thiết bị:
Lớp học và thiết bị học:
Thày giáo cần chuẩn bị trước để mọi máy tính và mạng máy tính trong trạng thái sẳn sàng và hoạt động ổn định. Thông thường ở trường phổ thông có thể bố trí cho 2 học sinh/máy. Tốt nhất đối với các bài (phân môn) nhằm rèn luyện kỹ năng (kỹ năng sử dụng bàn phím, kỹ năng xử lí văn bản) nên bố trí mỗi học sinh một máy. Các phần mềm cài đặt trên máy nên chỉ vừa đủ, nên sử dụng FireWall để hạn chế một số website. Đừng sử dụng mật khẩu và không nên sử dụng các phần mềm để che dấu các folder hoặc freeze một phần thông tin. Các phần mềm này đòi hỏi phải sử dụng mật khẩu để kích hoạt lại các thông tin đã bị che. Đối với các máy tính sử dụng “công cộng” việc che đấu đó đôi khi gây khó khăn cho các giờ học khác, thậm chí không thể khởi động máy tính ở giờ dạy của giáo viên khác, làm đình trệ giờ dạy hoặc làm sụp đổ cả một giờ dạy đã được chuẩn bị công phu! Thày giáo nên là một chuyên gia tốt trong việc xử lí các mật khẩu!
Sách và tài liệu:
Sách là một tài liệu học tập truyền thống. Lợi điểm của sách là di chuyển tiện lợi, nhẹ nhàng, có thể đọc ở đâu cũng được, không phụ thuộc nguồn điện. Các vấn đề trình bày trong sách thường tập trung và có hệ thống so với các tài liệu định dạng khác. Ưu điểm và cũng là nhược điểm của sách là trình bày tuyến tính theo thứ tự phát triển của vấn đề. 100% các bộ môn được giảng dạy ở các trường phổ thông hiện nay đều có đầy đủ sách, giáo viên cần liên hệ với thư viện để nắm được các đầu sách cần thiết giới thiệu cho học sinh của mình.
Ebook:
Phần lớn các Ebook trình bày dưới dạng trang web (Web style) và thường được ghi lên các đĩa CD hoặc DVD. Một số Ebook có thể được trình bày theo định dạng PDF mà phải dùng Acrobat Reader mới đọc được. Lợi thế của các Ebook là gọn nhẹ. Một đĩa CD thông thường có thể lưu trữ được vài chục đầu đề tài có sử dụng multimedia. Các đề tài trình bày theo kiểu trang web cho phép tạo các liên kết nhiều chiều (hyperlink) giúp cho người đọc có thể mở rộng tầm tham khảo của mình. Hầu hết các bộ môn hiện nay ở tất cả các cấp lớp phổ thông đều có các phần mềm hỗ trợ dạy học, và có thể hỏi mua các CD đó ở mọi nhà sách giáo dục.
Các địa chỉ Website có các nội dung liên quan đến bài học:
Trên Internet có một số lượng khổng lồ các Website giúp học sinh có thể tham khảo, tìm hiểu thêm các nội dung đang được học. Hạn chế hiện nay là các Web site tiếng Việt phục vụ cho học tập hãy còn quá ít. Một web site giáo viên cần theo dõi thường xuyên để biết các cập nhật mới nhất về giáo dục là: http://www.edu.net.vn hoặc http://ebook.edu.vn/
Các phần mềm học tập:
Hiện nay các phần mềm học tập đã khá phong phú. Các phần mềm học tập có thể xuất hiện trên thị trường dưới dạng các đĩa CD chạy trực tiếp không cần phải qua quá trình Setup (hoặc quá trình setup này là tự động). Nhiều bộ môn có các đĩa CD này dưới nhãn các đĩa “Gia sư” ứng với từng môn và từng cấp lớp. Trình bày trong các đĩa gia sư như vậy thường là theo đúng chương trình do Bộ Giáo Dục qui định. Giáo viên cũng cần chú ý tìm kiếm và sử dụng các phần mềm thực tại ảo (hay thí nghiệm ảo). Một số phần mềm thí nghiệm ảo có thể do Bộ Giáo Dục cung cấp hoặc có thể download về từ http://www.edu.net.vn.
o Phần trình bày của người dạy:
Lời nói: Lời nói là phương tiện diễn đạt quan trọng nhất của người dạy. Các phát biểu của người dạy phải được cân nhắc kỷ lưỡng. Các cảm xúc của người dạy thông qua lời nói phải được kiểm soát. Giáo viên phải tập nói to, rõ và phát âm đúng âm chuẩn, hạn chế dùng các phương ngữ và âm địa phương. Không được phép có các phát biểu có tính cách xúc phạm nhân cách người học. Các câu nói cần đúng ngữ pháp và văn phạm, tránh dùng câu què! Các câu hỏi phải rõ ràng, đủ ý. Câu hỏi đặt vấn đề có thể phát biểu cho cả lớp nhưng câu hỏi giải quyết vấn đề cần đặt ra cho từng cá nhân riêng lẻ.
Trình bày với bảng: Là một phương tiện dạy học truyền thống, là một cầu nối giao tiếp thuận tiện, linh hoạt giữa người học và người dạy. Trừ khả năng chuyển tải multimedia hiện nay không thể sánh được với các phương tiện khác thì bảng là phương tiện tuyệt vời của thày giáo trong dạy học. Bảng giúp người dạy trình bày các đường nét, chữ viết, điều chỉnh và hệ thống hoá các vấn đề đang thảo luận một cách rất linh hoạt. Hiện nay các tiết dạy tin học phần lớn đều dùng bảng nhựa trắng với viết phớt xoá được. Bảng đen với phấn không thích hợp cho môi trường máy tính vì bụi phấn là tác nhân làm hư hỏng các đĩa mềm, trầy xước các đĩa CD, bám vào mặt giấy làm hỏng rất nhanh các drum của các máy in Laser. Thày giáo cần rèn luyện chữ viết và cách trình bày bảng: Viết đúng chính tả, viết ngay hàng, rõ ràng và đẹp, có thứ tự để người học theo dõi tiến trình bài học một cách dễ dàng. Đừng viết rồi bôi xoá lung tung trên bảng. Cần hơi nghiêng người khi viết bảng để người học có thể nhìn thấy những gì đang viết. Đừng quay lưng lại phía người học khi viết bảng! Khi phải bôi bảng cần chừa lại các chi tiết có tính chất hệ thống hóa bài học.
Hiện nay có một số loại bảng hiện đại hơn. Sau tiết dạy thày giáo có thể in và phát ngay cho người học các nội dung vừa viết trên bảng (nhằm hạn chế thời gian người học phải ghi lại nội dung trình bày).
Trình bày với máy chiếu: Phần trình bày của người dạy thường là các presentations. Mặc dù hiện nay có nhiều phần mềm để soạn thảo các presentations (như phần mềm Violet, OpenOffice Impress) nhưng phần lớn người dạy đều dùng Microsoft Powerpoint để thực hiện các presentations này.
Đây là một phương tiện dạy học rất tốt. Nó giúp cho giáo viên có thể trình bày vấn đề rõ ràng hơn, mạch lạc hơn, mỹ thuật hơn. Các yếu tố multimedia giúp người học thú vị hơn với vấn đề được trình bày. Nó cũng tiết kiệm đáng kể thời gian ghi bảng của giáo viên. Tuy nhiên để sử dụng các presentation này có hiệu quả cần lưu ý:
* Presentation không phải là sách giáo khoa! Đừng đưa hết nội dung của sách giáo khoa lên các slide.
* Lưu ý đến khả năng nhận thức của người học trên mỗi slide: Mỗi slide nên có ít hơn 7 dòng chữ (hoặc 7 từ khoá). Nếu một nội dung quá dài hãy bố trí chia nội dung đó trên nhiều slide. Câu văn trên mỗi slide cần gảy gọn, ngắn.
* Đừng lạm dụng các hiệu ứng animation và transtion trừ khi hiệu ứng ấy là cần thiết và có liên quan đến nội dung học tập.
* Đừng dùng quá nhiều font chữ cũng như quá nhiều font size. Không nên sử dụng quá 3 font trong một presentation. Vì những gì hiển thị trên các slide là để đọc cho nhanh nên chớ dùng các font có chân (các font courrier, roman,…) mà nên dùng các font không chân như (Tahoma, Verdana, Helvetica, Arial sans serif, …) hoặc font có chân nhẹ nhàng như Times new roman.
* Đừng chất đầy Slide bởi hình ảnh và video trừ khi sự xuất hiện đó là cần thiết. Những hình ảnh hoặc video rất dễ làm người học (ở đây là trẻ em) mất tập trung.
* Đối với một tiết học trên lớp (45 phút) mỗi presentation không nên có quá 10 slides. Sự xuất hiện loang loáng quá nhiều slide làm học sinh khó hệ thống hoá các điều được trình bày! Chú ý rằng học sinh nhỏ thường chỉ có thể tập trung theo dõi tích cực trong 20 phút đầu tiên của bài giảng. Đừng sử dụng Presentation suốt 45 phút lên lớp!
* Đừng lạm dụng presentation. Không phải bài giảng nào cũng dùng presentation. Một số nội dung giảng dạy chỉ đơn thuần dùng lời giảng có khi kích thích trí tưởng tượng của học sinh tốt hơn. Hiệu ứng này có thể gọi là “hiệu ứng truyện cổ tích” nếu chúng ta để ý rằng học sinh đôi khi có một sự tưởng tượng phong phú hơn, sâu sắc hơn khi “chỉ nghe kể” truyện cổ tích so với “xem” phim về cùng một đề tài đó!
* Đừng để hiển thị các slide suốt thời gian trên màn chiếu. Khi học sinh đã xem, đã nhận thức đầy đủ một slide hãy cho projector tạm ngưng hiển thị. Điều này sẽ kéo dài tuổi thọ của projector (vốn rất đắt tiền!).
* Các presentation không phải là giáo án mặc dù nó thể hiện hầu hết những gì có trong giáo án. Có thể làm cho một presentation tiếp cận với tinh thần của một giáo án bằng cách sử dụng khuôn ghi chú (phần add notes) phía dưới mỗi slide hoặc dùng (Insert > Comment) để ghi các chú thích sư phạm của người dạy về mục đích bài dạy, tiến trình bài dạy và tiến trình các slide. Các ghi chú này sẽ không xuất hiện trong chế độ View Show. Sở dĩ nói presentation không phải là giáo án vì có những khác biệt cơ bản giữa giáo án và một presentation:
- Giáo án là một văn bản tuyến tính trình bày tiến trình dạy một bài học của giáo viên trong khi một presentation thông thường chứa các liên kết phi tuyến, nhiều chiều giữa các đơn vị kiến thức, thậm chí có các liên kết tới các tài liệu bên ngoài.
- Giáo án thể hiện một đơn vị bài dạy theo qui định pháp chế (45 phút) trong khi một presentation chỉ là một phần của tiến trình đó mà thôi. Đôi khi có trường hợp ngược lại: một presentation bao gộp rất nhiều tiết lên lớp (cả một chương chẳng hạn).
* Không nên quá cường điệu khả năng của các presentation! Nên phối hợp hợp lí với các cách trình bày bài học khác. Hiện nay người ta có khuynh hướng coi các presentation là “giáo án điện tử” nhưng bản thân khái niệm này chưa có công nhận chính thức nào từ Bộ Giáo Dục. Do đó câu hỏi “Một khi đã có giáo án điện tử có cần tiếp tục soạn giáo án như truyền thống nữa không?” cũng chưa có câu trả lời!
Trình bày với TV màn hình lớn: Đây là một phương án rất kinh tế. Được Trường Trung học phổ thông Phụng Hiệp – Cần Thơ đề xuất và được nhiều cơ sở giảng dạy tin học sử dụng. Chi phí đầu tư , duy trì, khai thác và bảo quản cho một TV màn hình lớn hiện nay thấp hơn rất nhiều so với dùng Digital Projector. Đầu AV-out của card TV từ PC sẽ được nối với đầu AV-in của TV. Nhược điểm của TV màn hình lớn là độ phân giải thấp nên các chi tiết nhỏ trên màn hình máy tính sẽ không thể hiển thị tốt được. Có thể khắc phục điều này bằng cách tăng độ phóng đại một vùng màn hình máy tính, nhưng khi đó chỉ có một vùng màn hình máy tính được hiển thị trên TV mà thôi.
Phần mềm kiểm tra: Các phần mềm này có chức năng tạo ra các bài kiểm tra, và thường là kiểm tra dưới dạng trắc nghiệm. Giáo viên có thể download các phần mềm này từ website (http://www.edu.net.vn/) của Bộ Giáo Dục. Nên lưu ý tìm hiểu các phần mềm như eXe hoặc Moodle. Các phần mềm này là miễn phí và có thể chép tại tất cả các Trường Cao Đẳng Sư Phạm.
Việc chuẩn bị đầy đủ các yếu tố nêu trên là hết sức cần thiết để đảm bảo thành công của việc dạy học (lấy người học làm trung tâm).

o Dạy cách học:
Dạy cách lập kế hoạch học tập:
Học sinh cần được hướng dẫn lập kế hoạch học tập. Kế hoạch học tập ở trường bao gồm việc học tập theo thời khóa biểu của nhà trường. Thời gian còn lại bao gồm công việc làm bài tập cho về nhà, thời gian đọc các tài liệu theo yêu cầu của thày cô giáo, thời gian tham gia các sinh hoạt tập thể, rèn luyện thể lực, thời gian giúp đở cha mẹ làm một số công việc nhà và thời gian nghỉ ngơi và giải trí. Nên chú ý vận động phụ huynh học sinh tạo cho con em mình một góc học tập yên tĩnh và theo dõi để các em thực hiện nghiêm ngặt kế hoạch này. Phụ huynh cũng phải tôn trọng kế hoạch của các em. Tốt hơn hết cha mẹ nên bàn với con cái để thống nhất thời khóa biểu này và cả hai đều kiên quyết thực hiện. Hiện nay có tình trạng sau giờ học ở trường cha mẹ học sinh (và đôi khi cả thày cô giáo!) buộc học sinh đi học thêm đủ các môn. Đây là một việc làm hết sức tai hại. Trong phần lớn các trường hợp kết quả học tập chẳng những không khả quan lên mà sức học của học sinh ngày càng yếu dần. Nguyên nhân ở chổ các em không còn thời gian để tự suy nghĩ, làm bài tập, rèn luyện các điều vừa được học mà chỉ ngồi thụ động suốt cả ngày nghe giảng. Các em cần chăm học nhưng không phải bằng cách suốt ngày đi nghe các bài văn mẫu, nghe các bài toán mẫu.
Dạy cách nghe giảng và ghi chú lời giảng:
Học sinh cần được dạy cách lắng nghe thày cô giáo. Đây không phải là điều dễ dàng vì lứa tuổi của các em rất hiếu động và khả năng chú ý còn thấp. Nhà trường phải chú ý để các lớp học có một không khí yên tĩnh, dễ tập trung trong giờ học. Nhiều lớp học cho tới nay còn quá gần khu dân cư , gần các hoạt động kinh tế. Tiếng ồn từ môi trường xung quanh làm phân tâm cả người dạy lẫn người học!
Do khả năng chú ý của học sinh còn thấp, giáo viên cần tập sử dụng những câu ngắn trong khi giảng bài và cần dùng nhiều hình tượng hỗ trợ cho các khái niệm trừu tượng. Tốc độ giảng bài cần vừa phải để học sinh kịp ghi (lưu ý: tránh đọc – ghi!)
Dạy cách diễn đạt:
Chú ý đến khả năng tranh luận và biện giải của học sinh. Tập cho các em có thói quen nói trước đám đông. Cần tổ chức cho học sinh tranh luận. Chỉ khi có tranh luận để bảo vệ một ý kiến, một nhận định người ta mới rõ giới hạn của hiểu biết của mình và thôi thúc mình tìm hiểu vấn đề sâu sắc hơn.
Khi phải diễn đạt ý kiến của mình trước tập thể thì khả năng ngôn ngữ của học sinh mới được củng cố. Vì tư duy lôgic trừu tượng (hoặc tư duy trên các kí hiệu toán học) là bước phát triển ở mức cao hơn của tư duy ngôn ngữ nên chỉ khi tư duy ngôn ngữ được hoàn thiện thì khả năng tư duy logic mới phát triển được.
Trừ một số trường hợp cần thiết nên hết sức tránh cách học thuộc lòng. Không dùng các câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời thuộc lòng. Nên dùng các câu hỏi yêu cầu học sinh lí giải, nhận định về vấn đề đã được học. Nên dùng các câu hỏi buộc học sinh phải động não để phân tích hoặc tổng hợp dựa trên các vấn đề đã học. Khích lệ đối với học sinh có thể trình bày lại vấn đề theo cách hiểu của mình.
Trong khi soạn giáo án giáo viên cần chuẩn bị trước các câu hỏi và lường trước các câu trả lời của học sinh. Việc chuẩn bị một hệ thống các câu hỏi là nhằm giúp học sinh tự nhận ra kiến thức. Nên có điểm khích lệ nếu cuối cùng học sinh nhận ra được kiến thức cần thiết.
Dạy cách tìm kiếm thông tin:
1. Tìm trong sách:
Nhà trường và giáo viên cần quan tâm để đảm bảo đủ sách cho học sinh. Ngoài sách giáo khoa còn cần bổ sung cho thư viện các đầu sách cần thiết cho việc đọc thêm của học sinh cũng như cho giáo viên tham khảo. Ngay tiết học đầu tiên giáo viên cần giới thiệu cho học sinh biết phải sử dụng các tên sách giáo khoa nào, các sách tham khảo nào. Cho học sinh biết các sách đó có thể mượn/mua ở đâu. Giáo viên phải biết rõ trong thư viện đang có các tên sách, đầu sách nào để hướng dẫn cho học sinh tìm đọc. Theo định kì giáo viên nên kiểm tra xem học sinh có đọc các sách đã chỉ định không và có vấn đề gì trong quá trình học với sách không.
2. Tìm trong máy tính và trên mạng:
Một chi tiết rất quan trọng đối với người học “tin học” là khả năng đọc hiểu tiếng Anh. Phần lớn các khó khăn về sử dụng máy tính và các phần mềm ứng dụng đều được hướng dẫn thông qua các “Help” và các help này hiện nay phần lớn là tiếng Anh. Cần tập dần cho học sinh thói quen đọc help. Thông tin cũng có thể tìm kiếm thông qua các bộ máy tìm kiếm (search engine) như Google. Đối với học sinh phổ thông trung học web site wikipedia có thể là một gợi ý tốt.
3. Tìm kiếm kiến thức từ người khác:
“Học thày không tày học bạn!”. Cần tổ chức cho học sinh bàn bạc, thảo luận với nhau (Dĩ nhiên là không phải trong giờ làm bài kiểm tra!). Trong chừng mức nào đó cần chấp nhận sự ồn ào do học sinh trao đổi với nhau về đề tài đang được học. Cần làm cho giờ học trở thành hào hứng và là một sự hợp tác giữa thày và trò, giữa các học sinh với nhau. Ở đây cân đối giữa sự trật tự và sự ồn ào do tích cực tham gia vào tiến trình bài học là do tài năng sư phạm của người dạy.
o Dạy cách tự kiểm tra kiến thức:
Kiến thức, kỹ năng không thể trở thành vững chắc nếu không qua quá trình tái hiện và vận dụng. Ngoài các biện pháp kiểm tra, các bài tập qui định từ phía người dạy, học sinh cũng cần học cách tự kiểm tra mình. Người dạy nên khuyến khích học sinh tự đặt ra các bài toán, các bài tập cho riêng mình và cho bạn bè. Dù các bài toán do học sinh tự đặt ra có thể rất đơn giản hay phức tạp thì người dạy cũng cần phải tôn trọng và tham gia xem xét một cách trân trọng.



Vài nhận xét bên lề:

[1] Có một điều nói lên tầm quan trọng của yếu tố con người trong sử dụng công nghệ: Cuba là nước được chúng ta viện trợ về máy tính và kinh tế của Cuba hiện nay – trong vòng vây cấm vận của Mỹ, khó khăn hơn chúng ta nhiều - thì lại sử dụng số máy tính được viện trợ trong giáo dục hiệu quả hơn chúng ta gấp nhiều lần!
[2] Thày giáo mà viết sai chính tả là việc khó thể chấp nhận được. Đây là một lỗi rất nặng nề mà các cấp lãnh đạo giáo dục và công chúng sẽ không tha thứ được!
[3] Con người không thể suy nghĩ về một vấn đề nếu không có ngôn ngữ và hình ảnh làm nền cho suy nghĩ đó.